Sự cố trong vận hành hệ thống xử lý nước thải

Giải quyết các sự cố trong quá trình vận hành hệ thống xử lý nước thải

– Nếu có thể, hãy cố gắng tích trữ càng nhiều càng tốt nước thải trong bể điều hòa hoặc bể chứa.

– Giảm lượng nước thải vào đến 20 – 30% mức bình thường.

– Giảm lượng oxi cung cấp xuống mức thấp nhất có thể (DO khoảng 1 – 2mg/l).

– Duy trì quá trình vận hành bình thường lâu đến mức có thể.

– Duy trì bổ sung chất dinh dưỡng nếu có thể.

– Nếu cần thiết, phải bổ sung nguồn Carbon từ ngoài vào (như acetate, methanole…) để tránh cho sinh khối bị thối rữa và lấy ra càng nhiều càng tốt.

Những sự cố thường gặp hỏng hóc về bơm:

Hằng ngày kiểm tra bơm có đẩy nước lên hay không. Khi máy bơm hoạt động nhưng không lên nước cần kiểm tra lần lượt các nguyên nhân sau:

–   Nguồn cung cấp điện có bình thường không.

–   Cánh bơm có bị chèn bởi các vật lạ không.

–   Khi bơm có tiếng kêu lạ cũng cần ngừng bơm lập tức và tìm ra nguyên nhân để

khắc phục sự cố trên. Cần sửa chữa bơm theo từng trường hợp cụ thể.

Trang bị hai bơm vừa để dự phòng, vừa để hoạt động luân phiên và bơm đồng thời khi cần bơm với lưu lượng lớn hơn công suất của bơm.

Những sự cố liên quan đến vấn đề sục khí:

–   Oxy tất nhiên là nguyên tố quan trọng nhất trong qua trình sinh khối hoạt tính. Nếu nguồn cung cấp oxy bị cắt hoặc ngay cả khi cung cấp hạn chế, sinh khối sẽ trở nên sẫm màu, tỏa mùi khó chịu và chất lượng nước sau xử lý sẽ bị suy giảm –

–   Cần phải giảm ngay lưu lượng cấp nước thải vào hoặc ngưng hẳn (nếu máy sục khí hỏng hẳn).

–   Sau những thời kỳ dài không đủ oxy, sinh khối phải được sục khí mạnh mà không nạp nước thải mới. Sau đó, lưu lượng cấp nước thải có thể được tăng lên từng bước một.

–   Các vấn đề về oxy cần phải được giải quyết triệt để càng sớm càng tốt.

Các vấn đề về đóng mở van:

–   Các van cấp nước thải vào không mở/đóng:

–   Các van thải sinh khối dư không mở/đóng:

Các van thải sinh khối được dùng để loại bỏ sinh khối dư từ các bể sinh khối hoạt tính. Trong trường hợp hư hỏng, sinh khối dư không được lấy ra và hàm lượng MLSS sẽ tăng lên. Nói chung, điều này có thể dể dàng chấp nhận trong vài ngày. Sau một chu kỳ lâu hơn,hàm lượng MLSS cao sẽ làm cho quá trình tách sinh khối – nước trở nên khó hơn.

Các sự cố về dinh dưỡng:

Các chất dinh dưỡng trong nước thải bao gồm N và P. Trong đó: Hàm lượng Nitơ trong nước thải đầu vào được coi là đủ nếu tổng Nitơ (bao gồm Nitơ – Kjedalhl, Nitơ – Amoni, Nitơ – Nitrit, Nitơ – Nitrat) trong nước đã xử lý là 1 – 2mg/l. Nếu cao hơn, nghĩa là hàm lượng Nitơ trong nước thải đã dư thừa thì cần chấm dứt việc bổ sung Nitơ từ ngoài (nếu có).

Các sự cố về sinh khối:

–   Sinh khối nổi lên mặt nước: Kiểm tra tải lượng hữu cơ, các chất ức chế

–   Sinh khối phát triển tản mạn: Thay đổi tải lượng hữu cơ, DO. Kiểm tra các chất

độc để áp dụng biện pháp tiền xử lý hoặc giảm tải hữu cơ

–   Sinh khối tạo thành hỗn hợp đặc: Tăng tải trong, oxy, ổn định pH thích hợp, bổ sung chất dinh dưỡng.

Vận hành hệ thống lọc sinh học nhỏ giọt và các sự cố hay xảy ra:

Vận hành hệ thống lọc sinh học nhỏ giọt yêu cầu cần phải theo dõi thường xuyên, kiểm soát các quá trình thử mẫu và kiểm tra, đồng thời tính toán kiểm soát các quá trình.

*) Theo dõi vận hành:

✓     Lớp màng: người vận hành phải kiểm tra độ dày của lớp màng để đảm bảo nó mỏng và đồng bộ hoặc dày và nặng (cho biết chất hữu cơ quá nặng). đồng thời, việc vận hành còn quan tâm đến màu sắc của lớp màng. Lớp màng màu xanh là bình thường, màu xanh đen hoặc màu đen cho biết chất hữu cơ quá tải, những màu khác có thể cho biết nồng độ nước thải công nghiệp hoặc các chất hóa học thêm vào hệ thống. Cần kiểm tra sự tăng trưởng bể mặt phụ của lớp màng để đảm bảo nó vẫn hoạt động tốt (mỏng và trong mờ); nếu sự tăng trưởng dày và tối cho thấy chất hữu cơ đã quá tải.

✓     Lưu lượng: sự phân phối lưu lượng dòng thải phải được kiểm tra để đảm bảo vận

hành đồng bộ. Ngoài ra cũng cần quan tâm đến sự thoát nước của hệ thống.

✓     Bộ phân phối: cần phải đồng bộ và phẳng. Bộ phân phối phải được kiểm tra để

tránh sự rò rỉ.

✓     Lớp đệm: kiểm tra để đảm bảo vận hành đồng bộ.

*) Kiểm soát các quá trình thử mẫu và kiểm tra:

để bảo đảm sự hoạt động hiệu quả của hệ thống lọc sinh học nhỏ giọt, mẫu thử và thời gian là rất quan trọng.

✓     Lọc dòng vào: kiểm tra các thông số: DO, pH, nhiệt độ, các chất rắn có thể

lắng, BOD, chất rắn lơ lửng và các kim loại.

✓     Lưu lượng tái tuần hoàn: các thông số cần kiểm tra: DO, pH, tốc độ dòng chảy, và nhiệt độ.

✓     Lọc dòng ra: kiểm tra DO, pH và bình.

✓     Quá trình thải: kiểm tra DO, pH, các chất rắn có thể lắng, BOD và các chất rắn lơ lửng.

Các vấn đề thường gặp trong quá trình vận hành và cách khắc phục

*)   Hồ:

Triệu chứng:

✓     Hình thành các ao hoặc vũng nước nhỏ trên bề mặt của lớp đệm.

✓     Giảm khả năng loại bỏ BOD và TSS.

✓     Xuất hiện mùi khó chịu do điều kiện kỵ khí trong lớp đệm.

✓     Lớp đệm có lưu lượng khí nghèo. Nguyên nhân:

✓     Tải lượng thủy lực không đủ để đảm bảo lớp đệm sạch bằng phẳng.

✓     Dòng thải tuần hoàn không đủ để cung cấp cho sự pha loãng.

✓     Lớp đệm không đồng bộ, hoặc đồng bộ nhưng quá nhỏ.

✓     Sự phân hủy lớp đệm do thời tiết.

✓     Các vật liệu vụn (lá, que, …) hoặc các sinh vật sống cản trở các chỗ trống. Khắc phục:

✓     Loại bỏ tất cả các vật liệu bụi kể trên ra khỏi vật liệu đệm.

✓     Gia tăng dòng tuần hoàn để tăng khả năng pha loãng trong hệ thống.

✓     Sử dụng dòng nước có áp suất cao để thay đổi và làm đầy diện tích hồ.

✓     Làm khô lớp vật liệu đệm. Khi dòng chảy ngưng đi qua lớp đệm, lớp màng sẽ khô và lỏng ra. Khi dòng chảy bắt đầu lại, lớp màng lỏng ra đó sẽ theo dòng chảy ra ngoài lớp đệm. Thời gian khô sẽ phụ thuộc vào độ dày của lớp màng và yêu cầu chuyển hóa, thông thường từ vài giờ đến vài ngày.

*   Mùi:

Thông thường, mùi phát sinh thường cho biết hoạt động của hệ thống có vấn đề. Nguyên nhân:

✓     Thừa lượng chất hữu cơ do chất lượng lọc dòng ra kém, hoạt động xử lý sơ

cấp kém và kiểm soát quá trình xử lý bùn họat tính không tốt là nguyên nhân hây nên hiện tượng BOD cao trong dòng tái tuần hoàn.

✓     Thông khí kém

✓     Thiết bị lọc bị quá tải. Khắc phục:

✓     Tính toán hoạt động của quá trình xử lý sơ cấp

✓     Tính toán và điều chỉnh kiểm soát quá trình xử lý bùn họat tính để làm giảm lượng BOD.

✓     Tăng tốc độ tái tuần hoàn để tăng DO trong dòng chảy vào hệ thống.

✓     Duy trì điều kiện thông khí ở dòng vào hệ thống.

✓     Thêm khoảng 1 – 2mg.l chlorine dư trong mỗi giờ khi lưu lượng dòng chảy thấp.

*   High Clarifier Effluent SS và BOD:

Triệu chứng:

✓     Dòng ra từ quá trình lọc nhỏ giọt có nồng độ các chất rắn lơ lửng khá cao. Nguyên nhân:

✓     Dòng tái tuần hoàn khá cao, do tải lượng thủy lực của bể lắng.

✓     Màng ngăn của bể lắng bị ăn mòn hoặc bị phá hỏng.

✓     Thiết bị thu gom bùn bị hỏng hay bị trục trặc.

✓     Tốc độ rút bùn không thích hợp.

✓     Tải lượng các chất rắn thừa. Khắc phục:

✓     Kiểm tra tải lượng thủy lực và điều chỉnh lưu lượng tái tuần hoàn nếu tải

lượng thủy lực quá cao.

✓     điều chỉnh dòng chảy để đảm bảo cân bằng với sự phân bố.

✓     Kiểm tra thiết bị loại bỏ bùn. Sữa chữa các thiết bị bị hư hỏng.

✓     Kiểm tra chiều sâu lớp bùn và nồng độ các chất trong bùn, điều chỉnh tốc độ

loại bỏ bùn và/hoặc thường xuyên duy trì điều kiện hiếu khí trong bể lắng.

✓     Xác định nhiệt độ trong bể lắng ở nhiều thời điểm khác nhau.

*   Filter flies:

Triệu chứng:

✓     Lọc nhỏ giọt và diện tích xung quanh là môi trường thích hợp cho một lượng lớn các sinh vật rất nhỏ bay được sinh sống.

Nguyên nhân:

✓     Tái tuần hoàn không hiệu quả

✓     điều kiện khô và ẩm gián đoạn

✓     Thời tiết ấm. Khắc phục:

✓     Tăng tốc độ tái tuần hoàn để duy trì tải trọng thủy lực tối thiểu là 0,07 m3/

m2.ngày.

✓     Làm sạch các bề mặt thành bể lọc và loại bỏ cỏ dại, bụi cây, … quanh bể lọc.

✓     Duy trì liều lượng tác chất trong bể lọc với nồng độ chlorine thấp (< 1mg/l).

điều này sẽ giúp phá hủy các ấu trùng.

✓     Làm khô lớp đệm lọc trong vài giờ.

✓     Làm ngập nước bể lọc trong 24 giờ.

*   Freezing:

Nguyên nhân:

✓     Tái tuần hoàn làm gia tăng hoặc giảm nhiệt độ các giọt nước.

✓     Gió thịnh hành gây nên sự mất nhiệt.

✓     đôi khi các tác chất thêm vào nước thải quá nhiều và quá lâu cũng gây hiện tượng đông lạnh.

Khắc phục:

✓     Giảm sự tuần hoàn tới mức có thể để hạn chế ảnh hưởng của sự lạnh.

✓     Vận hành 2 bể lọc song song để làm giảm sự mất nhiệt.

✓     Phủ lớp đệm để giảm sự mất nhiệt.

Vận hành hệ thống bùn hoạt tính:

Chuẩn bị lượng bùn hoạt tính cần thiết và cho khởi động các công trình sinh học (aerotank, mương oxy hóa) theo trình tự như sau:

–   Trước tiên cho một phần nước thải với nồng độ BODtp khoảng 200¸250mg/l chảy qua công trình. Nếu nước thải công nghiệp có nồng độ cao thì pha loãng bằng nước sản xuất hoặc nước sông. Bùn lắng tại bể lắng đợt 2 được tuần hoàn liên tục về aerotank.

–   Bùn hoạt tính sẽ gia tăng theo thời gian. Theo sự gia tăng của bùn có sự xuất hiện của nitrat và nitrit, tăng dần lượng nước cần xử lý hoặc giảm độ pha loãng.

Có thể sử dụng bùn có sẵn từ bể aerotank bất kỳ hoặc bùn hoạt tính phơi ở 60oC,

hoặc màng sinh học trôi ra từ bể lọc sinh học hoặc bùn ao hồ. Bùn hoạt tính có thể thu từ bùn sông hoặc ao hồ không nhiễm bẩn dầu mỡ hay dầu khoáng. Trước khi cho vào bể aerotank, bùn sông hoặc ao hồ phải được loại sơ bộ các tạp khoáng nặng (sỏi cát). Với mục đích này, bùn được trộn với nước, rồi sau thời gian lắng ngắn(3¸6 phút) được đổ vào bể aerotank. Tại đó bùn được thổi khí, không cần nước thải. Sau khi chuẩn bị bùn xong, cho nước thải vào bể aerotank, ban đầu với lượng nhỏ, sau đó theo mức độ tích lũy bùn, tăng dần cho đến khi đạt lưu lượng thiết kế.

Trong bùn hoạt tính hoạt động tốt, ngoài các bông tập trung các động vật vi sinh còn gặp một lượng không lớn thảo trùng (trùng lông), trùng xoắn, giun.

Khi điều kiện làm việc ổn định bị phá vỡ, trong bùn phát triển các vi khuẩn dạng chỉ (sphacrotilus, cladothrix) thực vật nhánh (zooglea ramigeras, các nấm nước…). Các dạng thực vật này làm cho bùn nổi, bùn này khó lắng trong bể lắng đợt 2 và bị cuốn trôi theo nước ra với lượng đáng kể.

Nguyên nhân của sự nổi bùn là bể aerotank quá tải, có lượng lớn cacbon trong nước thải, không cấp đủ oxy, pH nước trong aerotank thấp. để khống chế sự nổi bùn cần phải giảm tải trọng bể aerotank. Thậm chí tạm thời ngừng không cho nước thải vào, hoặc tăng lượng oxy hòa tan trong bể aerotank, nâng pH dòng vào đến 8,5¸9,5 trong khoảng thời gian nào đó.

Nếu nước thải nồng độ cao thải ra từng đợt bất thường thì phải yêu cầu lãnh đạo nhà máy chỉnh đốn nguyên tắc công nghệ hoặc thay đổi chế độ thải nước bằng cách lắp đặt bộ điều chỉnh hoặc bể chứa dự trữ.

Khi vận hành nhiều bể lắng 2 cần phải phân bố đồng đều lưu lượng nước thải và bùn hoạt tính giữa chúng cũng như tách bùn hoạt tính ra khỏi các bể lắng.

Việc tách bùn hoạt tính hoàn toàn có thể tiến hành liên tục và không cho hình thành lớp bùn nằm trong bể lắng. Việc tách bùn không đúng thời gian sẽ làm bẩn và làm giảm chất lượng nước đã xử lý, ngoài ra còn làm nổi bùn đã lắng.

Nguyên nhân lôi cuốn bùn từ bể lắng 2 có thể do nồng độ bùn cao hơn giới hạn đối với tải trọng đã cho.

đôi khi còn có trường hợp khó bảo đảm tách bùn từ bể lắng đứng. Vì vậy trong các bể lắng này cần cào bùn từ đáy phễu một cách hệ thống (hoặc vài lần trong ngày), khó khăn này cũng có thể giải quyết bằng cách tăng thể tích bùn tuần hoàn.

Nếu trong trạm xử lý có vài bể lắng đợt 2 và không có dụng cụ đo bùn tuần hoàn, tách ra từ mỗi phễu thì trên mỗi bể lắng cần có dụng cụ kiểm tra độ sâu của bùn, các dụng cụ này có thể là:

–   Thiết bị bơm dâng (ống thông nhau) được đặt ở các mức tương ứng để kiểm soát mức bùn cao nhất và thấp nhất trong bể.

–   Tế bào quang.

Nếu không có dụng cụ đo thì mức bùn xác định bằng cách lấy mẫu ở các độ sâu khác nhau. Sự xuất hiện trên bề mặt bể lắng 2 các bọt khí và cụm bùn hoạt tính là do thời gian lưu của bùn trong bể lắng quá lâu, để khống chế hiện tượng này nên tăng thể tích bùn lấy ra.

Sự có mặt của dầu mỡ, sản phẩm dầu mỏ, chất béo trong bể aerotank làm cho bùn nổi và lôi cuốn bùn từ bể lắng 2. Trường hợp này cần phải tăng cường hiệu quả của thiết bị tách dầu sơ bộ và nếu có thể ngừng không tiếp nhận nước thải chứa dầu mỡ, các sản phẩm dầu mỏ.

*) Các thông số vận hành hệ thống:

để vận hành hệ thống bùn hoạt tính, cần chú ý các yếu tố sau:

*    độ kiềm: kiểm soát độ kiềm trong bể hiếu khí là cần thiết để kiểm soát toàn bộ quá trình. độ kiềm không đủ sẽ làm giảm hoạt tính của vi sinh vật và cũng có thể ảnh hưởng đến pH.

*    DO: Hoạt động của bể bùn hoạt tính là một quá trình hiếu khí nên nó đòi hỏi lượng DO phải hiện diện ở mọi thời điểm. lượng DO này phụ thuộc vào BOD dòng vào, tính chất của bùn hoạt tính và yêu cầu xử lý.

* pH: pH trong hệ thống hiếu khí thường nằm trong khoảng 6,5 – 9.

*   MLSS, MLVSS, và MLTSS:

*   Nồng độ và tốc độ tuần hoàn bùn hoạt tính: Người vận hành phải duy trì sự tuần hoàn bùn hoạt tính tiếp diễn trong hệ thống. nếu tốc độ này quá thấp, bể hiếu khí có thể bị quá tải thủy lực, làm giảm thời gian thông khí. Nồng độ tuần hoàn cũng rất quan trọng bởi vì nó có thể dùng để xác định tốc độ tuần hoàn cần thiết để giữ MLSS cần thiết.

*   Tốc độ dòng chảy bùn hoạt tính thải: Bởi vì bùn hoạt tính có chứa cácvi sinh vật sống tăng trưởng, nên lượng bùn hoạt tính có thể tiếp tục gia tăng. Nếu bùn hoạt tính duy trì trong hệ thống quá lâu, hiệu quả của quá trình sẽ giảm xuống. Nếu có quá nhiều bùn hoạt tính bị loại khỏi hệ thống, các chất rắn sẽ không lắng đọng đủ nhanh để được loại bỏ ở thiết bị lắng thứ cấp.

*   Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của vi sinh vật.

*   độ sâu lớp phủ bùn: Nếu các chất rắn không bị loại bỏ ra khỏi hệ thống từ thiết bị lọc với cùng tốc độ chúng được đưa vào, lớp phủ sẽ gia tăng độ sâu. độ sâu lớp phủ bùn có thể chịu ảnh hưởng của nhiều điều kiện: nhiệt độ, độc tính trong nước thải,..

*) Kiểm soát vận hành hệ thống;

*   Tốc độ tuần hoàn

–   Tốc độ tuần hoàn quá cao, kết quả là: Sự thông khí và lắng đọng ở các bể bị quá tải thủy lực; thời gian thông khí và lắng đọng giảm, …

–   Tốc độ tuần hoàn quá thấp, kết quả là: sự tuần hoàn thối, các chất rắn bị giữ lại trong các bể lắng, giảm MLSS trong bể hiếu khí, …

*   Tốc độ nước thải:

–   Tốc độ nước thải quá cao, kết quả: giảm MLSS, giảm mật độ bùn, gia tăng SVI, giảm MCRT, tăng tỷ lệ F/M.

–   Tốc độ nước thải quá thấp, kết quả là: tăng MLSS, tăng mật độ bùn, giảm SVI, tăng MCRT, giảm tỷ lệ F/M.

*   Tốc độ thông khí:

–   Tốc độ thông khí quá cao, kết quả là: năng lượng bị lãng phí, tăng chí phí vận hành, các chất rắn nổi lên, phá vỡ bùn hoạt tính.

–   Tốc độ thông khí quá thấp, kết quả là: bể hiếu khí thối, hiệu quả kém, mất sự nitrat hóa.

Các vấn đề có thể xảy ra khi vận hành và cách khắc phục:

*   Triệu chứng 1: Lớp bùn phủ bị chảy ra ngoài theo dòng thải, không còn bùn lắng.

–   Do chất hữu cơ quá tải. Khắc phục: giảm tải lượng hữu cơ.

–   Do pH thấp. Khắc phục: thêm độ kiềm.

–   Do sự tăng trưởng của nấm sợi (filamentous). Khắc phục: thêm dinh dưỡng, thêm chlorine hay peroxyde để tuần hoàn.

–   Do thiếu hụt dinh dưỡng. Khắc phục: thêm dinh dưỡng.

–   Do độc tính. Khắc phục: xác định nguồn, bổ sung tiền xử lý.

–   Do thông khí quá nhiều. Khắc phục: giảm thông khí trong khoảng thời gian lưu lượng thấp.

*   Triệu chứng 2: một lượng lớn các hạt rắn nhỏ rời khỏi bể lắng.

–   Nguyên nhân: bùn cũ. Khắc phục: giảm tuổi bùn, gia tăng tốc độ dòng thải.

–   Nguyên nhân: sự hỗn loạn quá mức. Khắc phục: giảm sự hỗn loạn (kiểm soát thổi khí khi lưu lượng thấp).

*   Triệu chứng 3: Một lượng lớn các phân tử trong mờ, nhỏ rời khỏi bể lắng.

–   Do tốc độ tăng trưởng của bùn. Khắc phục: tăng tuổi bùn.

–   Do bùn hoạt tính mới, yếu. Khắc phục: giảm nước thải.

*   Triệu chứng 4: Bùn lắng tốt, nhưng lại nổi lên bề mặt trong thời gian ngắn.

–   Do sự khử nitrat hóa. Khắc phục: tăng tốc độ tuần hoàn, điều chỉnh tuổi bùn để hạn chế sự khử nitrat.

–   Do thông khí quá mức. Khắc phục: giảm sự thông khí.

*   Triệu chứng 5: các vi sinh vật trong bùn hoạt tính chết trong thời gian ngắn.

Do dòng vào chứa các chất độc tính. Khắc phục: tách bùn hoạt tính (nếu có thể). Tuần hoàn tất cả các chất rắn đang hiện diện. Ngưng cung cấp nước thải. Tăng tốc độ tuần hoàn. Bổ sung các chương trình tiền xử lý.

*   Triệu chứng 6: bề mặt của bể hiếu khí bị bao phủ bởi lớp bọt nhờn, dày.

–   Do bùn quá già. Khắc phục: giảm tuổi bùn. Tăng lượng nước thải, sử dụng các chất bơm kiểm soát bọt.

–   Do quá nhiều dầu và chất béo trong hệ thống. Khắc phục: tăng cường loại bỏ chất béo. Sử dụng các chất bơm kiểm soát bọt. Bổ sung các chương trình tiền xử lý.

–   Do các vi khuẩn váng bám tạo bọt. Khắc phục: loại bỏ các vi khuẩn này.

* Triệu chứng 7: xuất hiện những đám bọt lớn trên bề mặt bể hiếu khí.

–   Do bùn hoạt tính trẻ, lượng bùn ít. Khắc phục: tăng tuổi bùn, giảm cung cấp nước thải, sử dụng các chất bơm kiểm soát bọt.

–   Do các chất tẩy rửa. Khắc phục: hạn chế các chất hoạt động bề mặt, sử dụng các chất bơm kiểm soát bọt.

Các vấn đề thường gặp khi vận hành quá trình bùn hoạt tính

STT Vấn đề Nguyên nhân Hậu quả
1 Bùn     phát     triển     phân    tán (Dispersed growth ) Các vi sinh vật không tạo bông mà phân tán dưới dạng những cá thể riêng biệt hay những cụm nhỏ với đường kính 10mm-20mm. Hiệu suất bể lắng đợt hai thấp, nước ra khỏi bể bị đục.Lượng bùn tuần hoàn ít.
2 Bùn không kết dính được ( pinpoint floc ) Bông bùn thường có hình cầu nén nhỏ, có đường kính 50- 100mm, nguyên nhân là do có sự phân chia các bông bùn lớn, thiếu thức ăn, vi sinh vật phải dùng các polysaccarit ngoại bào như nguồn C và năng lượng cho quá trình sống Chỉ số thể tích bùn SVI thấp, nước ra khỏi bể bị đục.
3 Bùn tạo khối (bulking ) Các vi khuẩn dạng sợi phát triển quá mức trong bùn làm bùn nén kém và lắng kém. SVI caoKhó duy trì nồng độ bùn cần thiết trong bể sục khí Khả     năng    tách nước của bùn giảm

 

4 Bùn nổi (rising sludge) Trong bể lắng đợt hai diễn ra quá trình khử nitrat hoá sinh ra khí N2, khí N2 di chuyển lên trên kéo theo các bông bùn hoạt tính lên trên mặt nước.

Thời gian lưu lớp bùn nhỏ hơn 1 giờ la đủ hình thành lớp bọt khí Hình thành lớp bùn hoạt tính trên mặt nước.5Bọt váng (foaming/scum)Do sự hiện diện của vi khuẩn Norcadia spp và Microthrix parvicella Gây mùi hôi

Làm tăng SS, BOD ở nước thải đầu ra Lớp bọt   váng sẽ giữ lại một lớp bùn hoạt tính làm ảnh hưởng tới thời gian lưu bùn. Bùn tạo khối không phải do vi khuẩn dạng sợiBùn chứa quá nhiều polyme ngoại bào làm lớp bùn xốpTăng SS, BOD ở nước thải đầu ra, làm loãng lượng bùn.

Facebook Comments

Bài Viết Liên Quan